HIỆN TƯỢNG XÙ LÔNG,VÓN XƠ TRÊN MẶT VẢI VÀ CÁCH KHẮC PHỤC – FUZZING AND PILLING

HIỆN TƯỢNG XÙ LÔNG,VÓN XƠ TRÊN MẶT VẢI VÀ CÁCH KHẮC PHỤC – FUZZING AND PILLING

                                              HIỆN TƯỢNG XÙ LÔNG VÀ VÓN XƠ TRÊN MẶT VẢI

                                                                      FUZZING AND PILLING

Xù lông ( puzzing ) và vón cục xơ (pilling)  là hiện tượng một hoặc nhiều xơ sợi xuất hiện trên bề mặt vải. các xơ này có thể xoắn rối lại với nhau tạo thành hạt trên bề mặt vải , gây ra tình trạng bề mặt vải mất mỹ quan. Các xơ sợi này hình thành do quá trình ma sát và đặc điểm của thành phần , cấu trúc xơ sợi , kiểu dệt và điều kiện chăm sóc bảo quản áo quần tạo nên.

1) Thành phần xơ sợi:

Tuỳ thuộc vào thành phân xơ sợi tạo nên sợi vải, khuynh hướng xảy ra tình trạng vón cục trên mặt vải sẽ khác nhau. Thành phần sợi có thể là tự nhiên như bông, lanh, len và lụa , hoặc xơ sợi tổng hợp  như acrylic, polyester, lycra và các loại khác) hoặc hỗn hợp (ví dụ: hỗn hợp bông-polyester hoặc hỗn hợp len-acrylic ).

Một số sợi có khuynh hướng dễ bị xơ vón mặt vải hơn các loại khác. Như một quy luật chung, đối với sợi tự nhiên khuynh hướng này ít hơn xơ sợi tổng hợp . Thông thường xơ sợi tự nhiên có chiều dài xơ ngắn hơn và độ bền thấp hơn xơ sợi tổng hợp. Kết quả là, khi các vón xơ hình thành trên bề mặt vải, các vón xơ này dễ bị phá vỡ bóc bỏ trên mặt vải xơ trước khi hình thành pilling . Vải từ xơ sợi tổng hợp thì không có khả năng này do xơ bền và chiều dài xơ thông thường đủ để giử lại các vón xơ này trên bề mặt vải gây ra hiện  tượng pilling của vải sợi tổng hợp..

  • Sợi pha trộn thành phần các vật liệu (Blended) có khuynh hướng tạo xù lông và vón xơ nhiều hơn so với các vật liệu tinh khiết.
  • Sợi chi số lớn ít có xu hướng xù lông hơn sợi mãnh.
  • Độ xoắn tăng làm cho xơ gắn bó chặt chẽ hơn trong sợi và do đó làm giảm các xu hướng xù lông và pilling.
  • Sợi có hình dạng phẳng , tròn , mịn có xu hướng tạo pilling nhiều hơn.
  • Sợi tổng hợp hay sợi kỵ nước ( hidrophilic) có xu hướng tạo pilling nhiều hơn sợi tự nhiên.
  • Chiều dài xơ: Chiều dài xơ ngắn là một nguyên nhân gây ra xù lông và vón cục xơ trên mặt vải. Chiều dài xơ ngắn thì số lượng xoắn bám vào sợi ít, dễ bị bong ra gây xù lông.

2) Cấu trúc vải:

Vải dệt kim  luôn có xu hướng xù lông và tạo vón xơ ( pilling) hơn vải dệt thoi. Lý do là mặt vải dệt kim luôn có xu hướng dễ bị ma sát cao hơn mặt vải dệt thoi.

Như chúng đã biết , vải dệt kịm là kết cấu của các hệ thống các vòng sợi, trong khi vải dệt thoi là tổ hợp xen kẽ phẳng của hai hệ thống sợi ngang và sợi dọc. Do đó cấu trúc bề mặt của vải dệt kim luôn cồng kềnh và thô ráp hơn vải dệt thoi. Vì vậy vải dệt kim luôn chịu tác động ma sát của giặt giũ, sấy tumble và sinh hoạt của người mặc nhiều hơn so với vải dệt thoi cùng thành phần sợi dêt.

3) Giặt , sấy và quá trình sử dụng bảo quản:

Giặt giũ và sấy luôn là tác động ma sát chủ yếu gây ra tình trạng xù lông và vón xơ trên bề mặt vải. Áo quần dệt kim luôn được hướng dẫn sủ dụng giặt sấy với điều kiện nhẹ nhàng và êm dịu ( delicated) hơn áo quần bằng vải dệt thoi  .

4) Biện pháp giảm thiểu khuynh hướng xù lông và xón xơ trên mặt vải:

  • Đốt lông (Singeing) đối với vải cotton để làm giảm bớt khuynh hướng xù lông.
  • Xử lý nhiệt ở nhiệt độ cao trong thời gian thích hợp làm giảm bớt khuynh hướng này của vải.
  • Đối với vải Polyester/ Cotton, có thể dùng biện pháp xử lý nhiệt ở nhiệt độ thấp và lưu nhiệt dài để tăng khả năng kháng xù lông .
  • Lựa chọn nguyên liệu kéo sợi phù hợp.
  • Quy trình kéo sợi phù hợp, có tính đến khả năng kháng xù lông cho sợi và vải sau này.
  • Thiêt kế vải với các thông số phù hợp.
  • Sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoàn tất như đốt lông, hoặc xử lý cắt lông sinh học bằng enzyme…..

5) Đánh giá mức độ kháng lại khuynh hướng fuzing và pilling của vải:

Mức độ pilling của vải được đánh giá bằng cách so sánh các mẫu thử nghiệm với các tiêu chuẩn so sánh bằng mắt, có thể là các loại vải với mức độ pilling xem là tiêu chuẩn so sánh hoặc là hình ảnh thực tế của vải cho thấy mức độ kháng lại hiện tượng pilling của vải. Khả năng chống pilling được quan sát và đánh giá theo 5 cấp độ khác nhau, từ 5 (không tạo pilling ) đến 1 (mức độ tạo pilling rất trầm trọng).

Phương pháp thử này được áp dụng cho nhiều loại vải dệt thoi và dệt kim khác nhau về xu hướng tạo pilling do sự biến đổi trong vải, sợi và kết cấu vải, và hoàn tất.

5) Kết luận:

Hiện tượng xù lông và vón xơ trên bề mặt vải có thể được khắc phục bằng những biện pháp thích hợp từ khâu sản xuất sợi, sản xuất vải và công đoạn hoàn tất.
Nguồn: Vietthung’blog

Chia sẻ bài này

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *